Chùa Keo (Thần Quang tự) ở vùng Vũ Thư, Thái Bình cũ (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) có tam quan và gác chuông gỗ ba tầng mái được coi là một trong những công trình kiến trúc gỗ đẹp nhất Bắc Bộ. Quần thể hiện nay dựng khoảng năm 1630–1632 thời Lê, kéo dài theo một trục thẳng qua tam quan ngoại, tam quan nội, các toà chùa, và kết thúc bằng gác chuông, ghép hoàn toàn bằng mộng gỗ.
Một ngôi chùa có hai quê
Theo truyền thuyết và ghi chép địa phương, chùa Keo gốc do Thiền sư Không Lộ, một vị thiền sư nổi tiếng thời Lý, lập ở hương Giao Thủy bên bờ sông Hồng. Một trận lụt lớn làm làng và chùa bị cuốn trôi, dân làng chia làm hai, một phần sang bờ bên kia lập làng mới. Vì thế có hai chùa Keo: Keo Hành Thiện ở phía Nam Định và Keo Thái Bình. Hai bên đến nay vẫn giữ quan hệ, gọi nhau là "Keo trên, Keo dưới".
Chùa Keo ở Thái Bình là ngôi được biết đến nhiều nhất. Công trình hiện nay được dựng lại vào khoảng năm 1630–1632, dưới thời Lê Trung hưng, và trùng tu nhiều lần sau đó. Năm 2012, chùa Keo được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Chùa vừa thờ Phật vừa thờ Thiền sư Không Lộ, theo kiểu "tiền Phật hậu Thánh" phổ biến ở Bắc Bộ: phía trước là các toà thờ Phật, phía sau là đền thờ thánh.
Đi từ ngoài vào: một trục thẳng
Quần thể chùa Keo được bố trí theo trục thẳng dài, các công trình nối tiếp nhau. Theo thứ tự từ ngoài vào, người đến lần lượt đi qua:
- Hồ nước phía trước, tạo khoảng không và mặt nước phản chiếu.
- Tam quan ngoại: cổng lớp ngoài, mở ra đường và hồ.
- Sân rộng lát gạch, hai bên có thể có cây cổ thụ.
- Tam quan nội: cổng lớp trong, có mái chồng diêm, chạm gỗ tinh xảo.
- Các toà chùa thờ Phật: tiền đường, thiêu hương, thượng điện.
- Khu đền thờ Thánh phía sau.
- Gác chuông ở cuối trục.
Hai bên trục là hai dãy hành lang dài, ôm lấy toàn bộ khu chính. Cả quần thể xưa có hơn trăm gian nhà, đến nay vẫn còn phần lớn.
Điều đặc biệt là gác chuông không đặt ở cổng như nhiều chùa khác mà nằm ở cuối, cao nhất quần thể. Đứng ở tam quan ngoại nhìn vào, gác chuông như điểm kết của cả trục, kéo mắt người đi từ cổng vào tới tận cùng.
Tam quan nội: cổng gỗ chạm
Tam quan nội chùa Keo là một công trình gỗ có mái chồng, các đầu đao cong vút. Phần chạm khắc trên cốn, xà, đầu dư mang hoạ tiết rồng, mây, hoa lá phong cách thế kỷ 17. Cửa giữa thường chỉ mở vào ngày lễ hội.
Đứng trong lòng tam quan nội nhìn vào sân, sẽ thấy rõ dáng các toà chùa sau, mái nối mái thấp dần rồi cao vụt lên ở gác chuông phía cuối.
Gác chuông: ba tầng mái, không một cây đinh
Gác chuông chùa Keo cao khoảng 11 mét, ba tầng mái, mười hai đầu đao cong (theo cách đếm phổ biến), đứng trên một nền đá. Toàn bộ kết cấu gỗ được liên kết bằng mộng, không dùng đinh sắt. Mỗi tầng treo chuông: tầng trên cùng treo chuông lớn, tầng dưới treo chuông nhỏ hơn, có tài liệu ghi chuông lớn được đúc từ cuối thế kỷ 17.
Điều khiến các kiến trúc sư thán phục là cách các tầng gỗ chồng lên nhau mà vẫn vững qua hàng trăm năm, chịu bão, gió mùa và những trận lụt của vùng đồng bằng ven biển. Kết cấu gồm hệ cột cái, cột quân chạy suốt nhiều tầng, các tầng mái được đỡ bằng hệ con sơn, kẻ, bẩy, phân tán trọng lượng mái ra ngoài.
| Đặc điểm | Gác chuông chùa Keo |
|---|---|
| Thời kỳ | Thế kỷ 17, trùng tu nhiều lần |
| Chiều cao | Khoảng 11 m |
| Số tầng mái | Ba tầng |
| Liên kết | Mộng gỗ, không dùng đinh |
| Vị trí | Cuối trục chính của quần thể |
Các con số trên là thông tin được giới thiệu phổ biến; số liệu chính xác nên tham khảo hồ sơ di tích của ngành văn hoá địa phương.
Hội chùa Keo
Chùa Keo có hai kỳ hội trong năm. Hội xuân diễn ra đầu năm âm lịch, với các trò dân gian. Hội thu, quanh rằm tháng Chín âm lịch, là hội chính, gắn với ngày mất của Thiền sư Không Lộ, có rước kiệu, bơi chải trên sông, thi nấu cơm, thi bắt vịt. Vào hội, các cửa giữa của tam quan mở cho đoàn rước đi qua.
Đây là thời điểm đông nhất. Nếu muốn ngắm kiến trúc yên tĩnh, nên đến ngày thường.
Góc nhìn hôm nay: xem chùa Keo thế nào cho đáng
- Bắt đầu từ bên kia hồ: đứng ngoài hồ nhìn vào để thấy toàn bộ trục, tam quan ngoại phản chiếu mặt nước.
- Đi chậm qua hai lớp tam quan, để ý chạm khắc ở tam quan nội.
- Đi dọc hành lang hai bên, nơi nhìn được mái các toà chùa từ bên sườn.
- Dừng lâu ở gác chuông: đứng dưới nhìn lên hệ con sơn, kẻ bẩy, rồi lùi ra xa để thấy dáng ba tầng mái.
- Không trèo lên gác chuông trừ khi được nhà chùa cho phép; gỗ cổ cần được bảo vệ.
Người thích kiến trúc gỗ có thể đi tiếp chùa Bút Tháp, chùa Tây Phương, đình Tây Đằng để so sánh. Mỗi nơi giữ một nét của nghề mộc Bắc Bộ thế kỷ 17–18, khi những người thợ vô danh dựng nên các công trình mà đến nay kỹ sư vẫn tìm đến để đo vẽ, học hỏi.
Câu hỏi thường gặp
Chùa Keo ở đâu?
Chùa Keo, tên chữ Thần Quang tự, ở vùng Vũ Thư thuộc Thái Bình cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Ngoài ra còn chùa Keo Hành Thiện bên phía Nam Định, cùng gốc tích.
Gác chuông chùa Keo có gì đặc biệt?
Gác chuông cao khoảng 11 m, ba tầng mái, kết cấu gỗ liên kết hoàn toàn bằng mộng không dùng đinh, đứng vững qua hàng trăm năm. Gác đặt ở cuối trục quần thể, là điểm kết thị giác của cả chùa.
Chùa Keo xây năm nào?
Chùa Keo gốc do Thiền sư Không Lộ lập từ thời Lý. Quần thể hiện nay ở Thái Bình được dựng lại khoảng năm 1630–1632 thời Lê và trùng tu nhiều lần sau đó.
Hội chùa Keo diễn ra khi nào?
Chùa Keo có hội xuân đầu năm âm lịch và hội thu quanh rằm tháng Chín âm lịch. Hội thu là hội chính, có rước kiệu, bơi chải và nhiều trò dân gian.