Vào CửaWiki
Tìm
Cửa ô & cổng thành cổ

Các cửa Kinh thành Huế: tên chữ, tên dân gian và chuyện quanh cổng

Kinh thành Huế có mười cửa chính như Thượng Tứ, Đông Ba, cửa Ngăn, cửa Sập, Nhà Đồ; thêm cửa Trấn Bình và hai cửa nước, tên dân gian gắn với chợ, viện, kho xưa.

Các cửa Kinh thành Huế: tên chữ, tên dân gian và chuyện quanh cổng

Kinh thành Huế có mười cửa chính trên vòng thành dài gần 10 km, mỗi cửa có tên chữ chính thức và một tên dân gian quen gọi: Thượng Tứ, Đông Ba, cửa Ngăn, cửa Sập, Nhà Đồ, cửa Hữu, Chánh Tây, An Hoà, cửa Hậu, Kẻ Trài. Nhiều tài liệu kể thêm cửa Trấn Bình ở góc đông bắc, thành mười một cửa, cùng hai cửa nước cho sông Ngự Hà chảy qua. Mỗi cái tên dân gian gắn với một công trình, một khu chợ hay một nếp sinh hoạt quanh cổng.

Bối cảnh: một vòng thành, nhiều lớp

Kinh thành Huế được khởi xây năm 1805 dưới thời Gia Long, ban đầu đắp đất, sau đó được xây gạch dần và hoàn chỉnh vào thời Minh Mạng, khoảng năm 1832. Bên trong Kinh thành là Hoàng thành với Ngọ Môn, rồi Tử Cấm Thành. Bên ngoài là sông Hương ở phía nam và hệ thống hào nước bao quanh.

Kiến trúc phòng thủ của Kinh thành là một đề tài riêng thuộc lịch sử quân sự. Bài này chỉ nói tới các cửa thành như những công trình kiến trúc và như nơi người Huế đi qua mỗi ngày.

Mười cửa và tên gọi

Tên chữTên dân gianHướngGhi chú
Chánh Đông MônCửa Đông BaĐôngGần chợ Đông Ba, cửa ngõ buôn bán
Đông Nam MônCửa Thượng TứĐông namGần viện Thượng Tứ, nơi chăm ngựa của triều đình
Thể Nhơn MônCửa NgănNamMở ra phía sông Hương
Quảng Đức MônCửa SậpNamMở ra phía sông Hương
Chánh Nam MônCửa Nhà ĐồNamGần kho chứa đồ của triều đình xưa
Tây Nam MônCửa HữuTây namRa phía Kim Long
Chánh Tây MônCửa Chánh TâyTâyCửa chính giữa mặt tây Kinh thành
Tây Bắc MônCửa An HoàTây bắcMở ra làng An Hoà, đường ra phía bắc
Chánh Bắc MônCửa HậuBắcCửa phía sau Kinh thành
Đông Bắc MônCửa Kẻ Trài (cửa Trài)Đông bắcGần khu Mang Cá

Ngoài mười cửa này còn Trấn Bình Môn, cửa của đồn Trấn Bình (Mang Cá) ở góc đông bắc, và hai cửa nước Đông Thành Thuỷ Quan, Tây Thành Thuỷ Quan nơi sông Ngự Hà chảy xuyên qua Kinh thành. Vì vậy khi đọc tài liệu, sẽ gặp các con số 10, 11 hoặc 13 cửa tuỳ cách đếm.

Tên dân gian kể chuyện

Tên chữ của các cửa ghi hướng hoặc mang ý nghĩa tốt lành, như "Thể Nhơn" (thể hiện lòng nhân), "Quảng Đức" (rộng đức). Nhưng người Huế ít dùng tên chữ. Họ gọi theo những gì gần cổng:

  • Thượng Tứ: theo tên viện Thượng Tứ, nơi nuôi ngựa cho vua, từng nằm gần cửa này. Ngày nay khu vực cửa Thượng Tứ là một trong những lối ra vào đông nhất Kinh thành.
  • Đông Ba: gắn với chợ Đông Ba. Chợ ban đầu họp gần cửa, sau dời ra bờ sông Hương, nhưng tên vẫn theo cửa.
  • Cửa Ngăn: theo cách giải thích phổ biến, gắn với bức tường ngăn hoặc vai trò ngăn cách một khu vực bên trong. Có nhiều cách giải thích khác nhau.
  • Cửa Sập: người ta kể xưa cửa này có cầu treo hoặc cầu ván bắc qua hào, có thể sập xuống, kéo lên. Đây là cách giải thích truyền miệng.
  • Nhà Đồ: gắn với kho chế tác, chứa đồ dùng của triều đình gần cửa.
  • Cửa Hậu: cửa phía sau, đơn giản như tên gọi.

Tên dân gian không phải lúc nào cũng có giải thích chắc chắn. Nhưng chúng cho thấy người Huế nhìn cổng thành không phải như công trình quân sự, mà như mốc của khu phố mình.

Kiến trúc một cửa Kinh thành

Các cửa Kinh thành có cấu trúc khá giống nhau: một lối đi cuốn vòm xuyên qua thân thành dày, phía trên là vọng lâu có mái, hai tầng mái lợp ngói. Mặt cổng đắp tên chữ, đắp hoa văn. Phía trước cửa là cầu bắc qua hào nước.

Lối vòm khá hẹp so với giao thông hiện đại. Ngày nay ô tô, xe máy vẫn đi qua nhiều cửa, thường theo một chiều, xe lớn bị hạn chế. Vào giờ cao điểm, đứng ở cửa Thượng Tứ hay Đông Ba sẽ thấy dòng xe chậm lại, rồi tuôn ra như nước qua cửa cống.

Những cửa nhìn ra sông Hương

Mặt nam Kinh thành chạy dọc sông Hương, có cửa Ngăn, cửa Sập, cửa Nhà Đồ và cửa Thượng Tứ ở góc. Đi bộ dọc đường Lê Duẩn bên ngoài mặt thành phía nam là cách dễ nhất để thấy liền mấy cửa thành và Kỳ Đài trong một buổi. Bên kia đường là bờ sông, buổi chiều gió mát.

Góc nhìn hôm nay: đi một vòng các cửa

  1. Đi xe đạp là cách hay nhất: vòng Kinh thành gần 10 km, đường bằng, có thể dừng ở từng cửa.
  2. Bắt đầu ở cửa Thượng Tứ, đi dọc phía nam qua cửa Ngăn, cửa Sập, cửa Nhà Đồ, vòng lên cửa Hữu, Chánh Tây, An Hoà, cửa Hậu, Kẻ Trài, rồi về Đông Ba.
  3. Dừng ở hai cửa nước, nhìn dòng Ngự Hà chảy qua thân thành.
  4. Mang theo bảng tên chữ và tên dân gian, đối chiếu chữ đắp trên mặt cổng.
  5. Đi vào sáng sớm hoặc chiều muộn, tránh nắng gắt và giờ cao điểm.

Một số cửa đang hoặc đã được tu bổ, vọng lâu được dựng lại. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế công bố thông tin về các dự án này; nên tra trước khi đi để biết cửa nào đang có giàn giáo.

Câu hỏi thường gặp

Kinh thành Huế có bao nhiêu cửa?

Kinh thành Huế có mười cửa chính. Nhiều tài liệu kể thêm cửa Trấn Bình ở đồn Mang Cá thành mười một, cùng hai cửa nước trên sông Ngự Hà, nên con số có thể là 10, 11 hoặc 13 tuỳ cách đếm.

Cửa Thượng Tứ là cửa nào?

Cửa Thượng Tứ là tên dân gian của Đông Nam Môn, gọi theo viện Thượng Tứ nơi nuôi ngựa cho vua gần đó. Đây là một trong những lối ra vào đông nhất Kinh thành ngày nay.

Vì sao gọi là cửa Đông Ba?

Cửa Đông Ba là tên dân gian của Chánh Đông Môn, gắn với chợ Đông Ba từng họp gần cửa. Chợ sau dời ra bờ sông Hương nhưng vẫn giữ tên cũ.

Kinh thành Huế xây năm nào?

Kinh thành Huế khởi xây năm 1805 dưới thời Gia Long và hoàn chỉnh vào khoảng năm 1832 thời Minh Mạng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183